23 tháng 1 2014

Xuân Di Lặc (Giáp Ngọ) - Phần 4


"Cho nên mình nghe tiếng chửi, tiếng mắng, tiếng thị phi của người đó thì mình tự nói trong tâm như vầy: “Chính người này không phải thị phi nói xấu, nhưng vì tâm lượng từ bi của mình ít quá, thành ra mình không hóa giải nổi cái này, thì ra mình còn phải tu nhiều nữa”..."


 Tác giả: Thích Tịnh Từ
Xử lý vi tính: Diệu Danh
 
Ngược lại trong gia đình mình mà có nghiệp lành, nghiệp tốt, vấn đề dâu, vấn đề rể nhiều khi mình không chọn nhưng mà những cái nghiệp lành từ trong quá khứ nó tìm tới nó làm dâu, làm con, làm rể chuyện đó không phải chọn theo cặp mắt thường tình mà được, nhưng mà thông thường chúng ta khi đi chọn dâu, chọn con, chọn rể chỉ nhìn bề ngoài mà thôi: nào là có công ăn việc làm, nào là có bằng cấp, nào là mặt mũi sạch sẽ, nào là phải có lễ, có nghi v.v…chỉ nhìn được hình thức bề ngoài mà thôi, còn cái hình thức nghiệp thiện hay nghiệp ác để mà đến với mình thì không thể thấy được.
Trong khi đó hóa thân của Đức Di Lặc hay đến nhà ông Tưởng Tôn Bá (Ma Ha cư sĩ)
Ông Ma Ha cư sĩ nói rằng: “vả chăng giàu sang như lùm mây nổi, như giấc chiêm bao có cái gì lâu bền chắc chắn đâu nên tôi nguyện cho con cháu tôi đời đời được miên viễn mà thôi. (miên viễn là có đạo hạnh, là có phúc đức)” Ngài bèn lấy túi thọc tay vào móc ra, lấy một cái túi nhỏ, một cái hộp và một sợi dây liền cho ông Ma Ha cư sĩ mà nói rằng: “ta cho ngươi vật này và ta sẽ từ biệt, xong căn dặn người phải giữ gìn vật đó cho kỹ càng, đó là điều kín những việc hậu vận của nhà ngươi”. Ông Ma Ha cư sĩ vâng lời lãnh lấy món ấy chẳng rõ được ý gì. Cách vài bữa sau Ngài trở lại nhà ông mà nói rằng: “ngươi có hiểu được ý ta không?”. Ông thưa: “thưa Ngài, đệ tử chẳng rõ”. Ngài nói rằng: “đó là ta cho cái vật muốn cho con cháu nhà người sau này có đạo hạnh và đầy đủ phúc đức”, nói xong rồi Ngài bèn đi. Và quả tình ông cư sĩ này ông đã dạy con dạy cháu không những giàu sang phú quí mà còn có một đời sống đạo đức rất là cao và một số con cháu ông sau này xuất gia làm tu sĩ .
Quí vị chịu khó về đọc cái này nói rất là nhiều, Thầy chỉ nói một vài điểm mà thôi. Không những Ngài giáo hóa ở những người bình dân, người nghèo mà Ngài giáo hóa luôn cả Vua.
Có một hóa thân khác rất là lý thú, có thể nghe một chút. Hồi đời Lục Triều thì Đức Di Lặc lại ứng Tích Đại Sĩ ở chùa Song Lâm một thời kỳ nữa, khi Ngài ra mặt vua Lương Võ Đế, vua liền hỏi Ngài rằng xin đại sĩ cắt nghĩa cho quả nhân nghe làm sao được gọi là đạo? Ngài liền bạch rằng: “tâm thiện là đạo, tôi xin chứng nghiệm như vầy, xin bệ hạ lắng nghe, như khi bệ hạ chưa lên tại điện này thì trong tâm lúc ban đầu chưa khởi niệm, bổn trí vẫn tự nhiên mà được diệu tịnh quang huy bác, sáng suốt hiện buổi nay rực rỡ đến thuở trước và đầy lấp tất cả thái hư. Khi tịnh quang ấy muôn đời không sinh vĩnh kiếp không diệt, chẳng phải thánh chẳng phải phàm không thúc phược mà cũng không giải thoát đó là tâm thể rất màu nhiệm và rất vắng lặng Ngài không có tâm nào phân biệt nữa vì thế cho nên mới gọi là tâm đạo. Vua Lương Võ Đế hỏi rằng: “vậy chớ Đại Sĩ tôn ai làm thầy không?” Nói: “Thầy thì không có ai làm thầy của bần đạo, còn tôn thì bần đạo cũng không tôn ai hết đến việc tùng sự thì cũng không tùng sự với người nào cả. Vua Lương Võ Đế nghe Ngài nói như vậy biết đây là một vị Bồ Tát lâm phàm nên càng tôn quí Ngài một cách đặc biệt. Đoạn nói rồi Ngài thưa rằng: “Bệ Hạ ngày nay đặng phước tôn vinh như vậy nguyên nhân cũng là một vị Bồ Tát giáng thế cứu quần sanh, vậy xin Bệ Hạ phải mở thông lý địa nên tự lượng nơi mình tâm để cho thanh tịnh đừng trước nhiễm vật gì lấy đó làm căn bản, rồi cần nhất là phải làm chỗ hư linh cơ sở cầu cho đạt được Niết Bàn diệu quả. Nếu Bệ Hạ thi thố những phương pháp trị quốc thì phải dùng chánh pháp mà sửa trị thế gian và thi hành những điều nhân đức đặng cho lê dân cảm hóa, trong triều thì trọng dụng những người hiền tài mà trừ khử mấy kẻ cưu lòng gian nịnh. Còn ngoài thì lấy nhân chính để hướng dẫn những kẻ cô độc, bỏ hình phạt trừng trị nặng nề và ban lệnh, chánh lịnh cho nghiêm mật để mà giữ dân trị nước. Nếu Bệ Hạ trị vì trong thiên hạ và thi nhân bố đức được như thế thì kẻ xa người gần đều thuần gội ân đức vô cùng tận, chừng đó việc can quan phải dứt mà trong đội ngũ lại ninh bình thì ngôi trời được hùng tráng, am hiểu như thế thì Bệ Hạ thiên cơ đã thành diệu lại còn nối ngôi Phúc Tổ được lâu dài, đó là bần đạo hy vọng Bệ Hạ nên làm như thế, và Vua Lương Võ Đế đã xây chùa, đã nuôi tăng độ chúng mà ông làm rất nhiều việc mà chính là một trong hóa thân của Ngài Di Lặc đã giáo hóa cho ông.

Nhưng mà ở trong truyện, nhất là quí vị đã đọc kinh Lương Hoàng Sám cũng có nói vua Lương Võ Đế thì rất là hiền đức và có duyên với hóa thân đức Di Lặc, nhưng mà bà vợ không có duyên, nghĩa là vua làm lành bao nhiêu, tu tập bao nhiêu, làm việc Phật sự bao nhiêu thì bà chống đối, bà buồn rầu, bà gây gỗ. Không có duyên! Sau khi bà chết bà làm con mãng xà, rồi sau đó hòa thượng Chí Công là một người đắc đạo trong đương thời mới bàn với Lương Võ Đế lập đàn tràng để giải oan, rồi sau đó con rắn mà thường vô trong cung nó mới giải thoát được. Sau đó Vua cảm nghe được rằng bà đã được giải thoát theo cái phương pháp thiền định. Cho nên cái người mà làm Vua uy quyền như thế mà tu tâm dưỡng tánh rất là sâu sắc gần gũi với chư tăng như thế mà bà vợ bà ấy chống đối. Và vua ngày xưa quyền lắm, vua nói đầu rơi là phải rơi, vua bảo sống là sống, vua bảo chết là chết mà bà vợ bà chống lại đến nỗi vua phải nhường bà nhưng mà đến khi nghiệp quả bà đến thì bà cũng chết làm con rắn, nghiệp quả là như vậy.
Nhân đây nói về Ngài Di Lặc Bồ Tát nhưng mà có liên quan chúng ta cũng biết được cái nhân quả nó rất là thâm diệu, mình không thể coi thường nhân quả, cho nên mình sinh ra đời mà cái nào mình tu chưa giải được hay là cái nào mình ăn ở hiền lành mà người ta đối xử mình không có đàng hoàng thì chớ vội trách, mà nghiệp quả phải trả cho nên phải nhẫn nại đừng có hấp tấp để mà đưa ra tòa án pháp luật rồi kiếp này không trả xong oan nghiệp kéo thêm, kiếp sau tiếp tục trả, bởi vì bà Lương Võ Đế trước kia bà là một con giống con dế ở trong chùa, ở trong một cái chậu như sư bà Đức Viên trồng ngoài đó, khuya khoảng 4 giờ thì nó kêu reng reng như đánh chuông, mọi người ngồi dậy để ngồi thiền tụng kinh, nhưng có một bữa thầy lớn đi nên mấy chú ở nhà nghe con dế nó reo như vậy cho nên bực. Ở chùa nhiều khi làm biếng lắm, thèm ngủ lắm! Thành ra có một cậu làm thủ chúng nghe con dế nó kêu hoài bởi vì không ai chịu dậy tụng kinh hết thành ra ông giận quá, ông ra cầm cái dao, dao mà để cắt bông, ông ra nghe cái chỗ có tiếng kêu, ông xăm xăm làm sao mà đứt cái lưng nó chết. Sau Hòa Thượng về không nghe con dế nó kêu nữa nên ra tìm moi lên thì thấy con dế bị đứt lưng, Ngài mới lấy vải điều bọc nó lại đem chôn và Ngài nói với tăng chúng rằng: “đây là một vong thức rất là lớn, bởi vì kiếp trước cũng đã từng là thầy tu, sau khi bị đọa bây giờ làm con dế để nghe kinh nữa thế mà không may bị chết sớm, nhưng mà nhờ ở trong chùa cũng nghe kinh, được cái công đức là lắc chuông buổi khuya cho chúng đi, thế mà về sau đầu thai làm người con gái rất đẹp và cuối cùng là vợ của vua Lương Võ Đế. Thế mà cái oan nghiệt ngày trước bị một vị tăng đâm ở trên lưng mà thù đến cả Phật giáo, thù luôn đến cả chư tăng, cho nên thấy Chư Tăng là bà không thèm ngó, thấy là bà ghét lắm, thù lắm, bởi vì con dế còn nhỏ thấy người ta giết như vậy nó không biết ai giết nó, cứ nghĩ là mấy ông thầy chùa giết mà thôi; thành ra từ đó người nào đội mũ, mang áo thầy chùa là bà giận rồi, bà không ăn, bà không uống, bà chống đối dữ lắm, cuối cùng vua cũng nể bà quá cho nên phải nhìn nhượng bà bớt, sau đến cái nghiệp bà chết.

 Khi quí vị đọc kinh Lương Hoàng Sám sẽ biết rằng tội phước rất rõ ràng, rất là phân minh và ở đời mình làm nhân gì thì mình gặp quả nấy. Tu thì có quả lành, đi nghe pháp thì thay đổi được tâm tính, uống rượu cờ bạc thì không những thua tiền, mà tâm trí còn lộn xộn và tài sản sẽ mất mát, tan gia bại sản. Cái nhân quả nó rõ như vậy không có gì phải phân vân hết. Bởi vậy mình học Phật nghe pháp là một chuyện rất cần thiết, rất là quí hóa.
  
Câu chuyện đây còn dài lắm quí vị nên về đọc nó hay lắm, hấp dẫn lắm bởi vì lâu này Thầy cũng đọc rất nhiều tài liệu nhưng mà chưa có tài liệu ghi lại đầy đủ về sự tích Đức Di Đà, Đức Di Lặc và các vị Bồ Tát rõ như cuốn này, nên đọc cho kỹ để chiêm nghiệm.

Chúng ta trở lại để đến với quí vị về nụ cười của Đức Di Lặc. Cái bụng của Ngài lớn lắm, tượng trưng cho cái lòng thương rộng lớn thì ví như là nước, nước thì nó có thể ở trong ly, ở trong tô, ở trong ao, ở trong hồ, ở trong sông, ở trong giếng, ở trong biển. Khi cái ly ở trong nước thì nhỏ quá, nếu mình bỏ chất dơ đen vô thì ly nước đen thui, nhưng ví dụ như nước ở trong hồ như vậy nếu mình ném một viên đá, hoặc ném một cục bùn xuống thì hồ đó cáu bẩn hết, nhưng mà trong khi đó mà nước ở trong cái sông lớn ném cục bùn xuống không đủ thiếu gì hết, lượng nước lớn quá đi, nước biển xanh ngắt, bao nhiêu vật dơ cấu ở trên các nẻo đường đều trút về biển, nhưng khi về biển lại thì nó chuyển hóa thành trong xanh, không có cáu đọng. Tại vì sao? Vì cái lượng nước nó lớn quá đi, cho nên cái chất gì dơ bẩn bao nhiêu vào một cái thì nó hóa giải đi hết.
 Thì thưa quí vị cũng như vậy, cái tâm lượng từ bi của mình lớn thì cái thù nào, cái oán nào, cái oan gia nào, cái xấu nào tới thì nó hóa giải hết, thành ra trong hết, thành ra đẹp hết, thành ra dễ thương hết. Như vậy người nào đến với mình không dễ thương mà dễ ghét, thì mình phải hiểu một điều là cái lượng thương yêu của mình nó nhỏ quá, nó ích kỷ quá, nó hẹp hòi quá, cho nên vừa đến một cái thì tự nhiên cái lượng ở nơi thân tâm mình nó bị cáu đục liền. Mình biết được như vậy nên phải tập không nói ra được ngoài thì mình nói trong tâm, người nào đem cái buồn đến cho mình mình nói rằng: “Rất tiếc rằng cái lượng thương yêu của tôi ít quá thành ra cái buồn của chị có đủ thiếu gì đâu, nhưng mà tôi cũng không hóa giải được thành ra tôi thấy tôi phải tu nữa”. Mình tự nói trong tâm như vậy. Cho nên mình nghe tiếng chửi, tiếng mắng, tiếng thị phi của người đó thì mình tự nói trong tâm như vầy: “Chính người này không phải thị phi nói xấu, nhưng vì tâm lượng từ bi của mình ít quá, thành ra mình không hóa giải nổi cái này, thì ra mình còn phải tu nhiều nữa”. Có nói được như vậy mình mới mỉm cười và nói: “Chị la như vậy là oan cho em chứ em không có cái đó đâu”, chứ mình không suy nghĩ được cái lượng từ bi của mình hẹp thì mình nói rằng: “Bộ bà điên hả? Khi không bà tới đây bà gây gổ, đầu năm đầu tháng, bà muốn tui kêu cảnh sát còng tay không?”. Nhưng mà mình biết cái lượng từ bi của mình yếu mình không có gây, mình biết nhìn, cái này gọi là mình biết quán chiếu về cái tâm lượng của mình, thấy rõ bản chất thật của mình và thấy cái điều không hóa giải được là do cái khả năng quá yếu của mình trong cái hạnh phát triển trí tuệ và thương yêu, cho nên mặc dầu không hóa giải được nhưng mà mình không có gây thêm, còn đằng này cái lượng của mình đã không có nhiều về năng lượng thanh tịnh rồi mà cái lượng vô minh của mình nhiều quá cho nên mình chỉ đổ tội cho người kia mà thôi. Nào là: “Khi không tôi không có gây gổ với bà, tôi không có nợ nần bà, tôi không có oan gia với bà, tại sao khi không bà tới đây bà gây gổ? Tại sao vậy? Bà là cái thứ nào?”. Khi mà mình nói như vậy là vì mình giận quá đi.

 Nhưng mà cái nghiệp nó nói rằng bà là oan gia của tôi kiếp trước, bây giờ tôi tới tôi đòi đó, bà không lo tu tôi đòi hoài. Quả tình như vậy! Cho nên ở trong gia đình mình nếu có người mà luôn luôn gây gỗ làm đau đớn cho mình, thì cái người đó thứ nhất mình hiểu họ không có cái phương pháp để tu học, mà mình không có tìm cách để hướng dẫn họ nghe chánh lý, nghe cái nhơn quả thành ra thiếu bổn phận của vợ hay của chồng. Bởi vậy thử hỏi coi, từ khi mình lấy ông ý cho đến hôm nay mình đã hướng dẫn ông ấy đi tu thiền lần nào chưa? Hướng dẫn ông ấy đến chùa Đức Viên nghe giảng được mấy lần? Hướng dẫn ông ấy đi tụng kinh nghe pháp được bao nhiêu? Có vậy thì mình mới nói ông là cái loại nào, chứ mình không có hướng dẫn chi hết, mình không có khuyến khích chi hết mà bây giờ cứ nói rằng: “Trời ơi ngày xưa tui thấy ở Việt Nam được được mà qua đây sao ông mỗi ngày mỗi kỳ cục quá đi”. Qua đây bao nhiêu cái chuyện khó khăn mà bà không hướng dẫn ông ấy đi tu học gì hết, thấy ông đi làm mấy job còn mừng nữa chứ, rồi cười nói: “Ông đi làm mấy job đi để tui đi tu thế cho”. Tu thế sao được! Ông tu thì ông có ý thức tỉnh giác, còn bà tu thì bà tỉnh giác chứ tu thế sao được. Thế mà cứ nói rằng: “Ông cứ đi làm đi để tui tu thế cho”. Không có thế, nói như vậy có nghĩa là: “Thôi, ông nằm chơi để tui ăn dùm cho”. Đâu có được! Thành ra mình đi tu phải hướng dẫn ông đi tu, hay là ông đi tu ông cũng phải hướng dẫn bà đi tu. Không muốn cạo đầu như các ni cô, không muốn cạo đầu như quí thầy, ít nhất phải tu cư sĩ, mà muốn tu cứ sĩ phải nghe kinh, nghe pháp, nghe cái giáo lý đâu ra đó mới phát tâm được.

(còn tiếp)

0 Kommentare:

Chia Sẻ

Twitter Delicious Facebook Digg Stumbleupon Favorites