Pages

10 September 2018

THẬN TRỌNG ĐỐI VỚI LỖI LẦM


Lại một lần khác, con vào vườn cây của chùa trộm lấy mười quả xoài là vật của hiện tiền tăng, rồi ăn một mình. Do nghiệp ác này, nên con chịu khổ trong chốn địa ngục. Nghiệp ác ấy chưa hết, con phải sinh làm rồng đói ở nơi đầm vắng, thường bị các loài côn trùng cắn rỉa, ăn thịt, máu mủ chảy khắp, đói khát khổ não...


Phẩm Tế long trong kinh Đại tập ghi: “Lúc bấy giờ, trong chúng hội, có một con rồng mù tên là Phả-la-cơ-lê-xa lớn tiếng khóc than, thưa rằng:
 - Bạch Đại Thánh Thế Tôn, xin Ngài cứu con! Xin Ngài cứu con! Nay thân con chịu nhiều đau khổ, ngày đêm thường bị các loài côn trùng cắn rỉa, ăn thịt, sống trong nước nóng, không lúc nào được tạm vui.
 Đức Phật bảo Lê-xa:
 - Vào thời quá khứ, ngươi từng làm tì-kheo ở trong Phật pháp, nhưng lại hủy phá giới cấm, trong ngầm dối trá, ngoài hiện tướng hiền lành, tham muốn quyến thuộc đông, đệ tử nhiều, danh tiếng vang khắp, ai ai cũng biết đến, còn tự xưng: ‘Ta là hòa thượng đã đắc quả A-la-hán’. [85a] Do nhân duyên này, ngươi được thí chủ cúng dường rất nhiều, nhưng chỉ riêng mình thụ dụng. Thấy người giữ giới thì ngươi lại nói xấu, khiến họ buồn khổ và thề rằng: ‘Đời đời dù sinh ra nơi nào, ta cũng ăn thịt ông’. Đó là thân đời trước của ngươi. Do nghiệp ác này, sau khi chết, ngươi sinh trong loài rồng. Những người kia vì lời thề nên ăn thịt ngươi, còn ngươi do tạo nghiệp ác nên phải chịu quả báo mù lòa. Lại nữa, trong vô lượng kiếp quá khứ lúc ở nơi địa ngục nước đồng sôi, ngươi cũng thường bị các loài côn trùng cắn rỉa, ăn thịt.

 

Nghe câu chuyện này, rồng buồn khổ khóc lớn, bạch Phật:

 - Chúng con ngày nay đều xin chí thành sám hối, nguyện cho chúng con mau được thoát khỏi nỗi khổ này.

 Khi ấy, hai mươi sáu ức con rồng đói kia đều nhớ lại thân quá khứ của mình, khóc lóc thảm thiết, nhớ lại đời trước tuy đã xuất gia ở trong Phật pháp nhưng tạo đủ các nghiệp ác, nên trải qua vô số thân bị đọa vào ba đường ác; do nghiệp báo này chưa hết, nên lại sinh vào loài rồng, chịu khổ cùng cực, chẳng hạn như con rồng mù này vậy.

Bấy giờ, Đức Phật bảo các con rồng:

 - Các ngươi hãy lấy nước rửa chân Như Lai thì tội báo của các ngươi dần dần được tiêu trừ.


Ngay đó, tất cả rồng lấy tay vốc nước, thì nước đều biến thành lửa, lại biến thành tảng đá lớn, rồi nổi lửa dữ đỏ rực khắp cả lòng bàn tay, dập tắt thì lại cháy, bảy lần như thế. Thấy vậy, tất cả rồng đều kinh sợ, sầu não, nước mắt đầm đìa. Vâng lời Phật dạy, chúng phát nguyện lớn, lửa dữ đều bị dập tắt. Đến lần thứ tám, chúng lấy tay vốc nước rửa chân Như Lai, chí thành sám hối. Đức Phật thụ ký cho các con rồng này: ‘Vào thời Phật Di-lặc, các ngươi sẽ được làm người, gặp Phật xuất gia, tinh tiến trì giới, đắc quả A-la- hán’.



Bấy giờ, các con rồng đều chứng được túc mạng tâm329, tự nhớ lại nghịêp đã tạo trong đời quá khứ, từng ở trong Phật pháp, hoặc làm cư sĩ thân cận với chúng tăng, hoặc tới lui nghe pháp. Những người có lòng tin cúng dường các món ăn, thức uống, hoa quả, thì cùng với các tì-kheo ăn uống.

 Có rồng nói:

- Tôi thường dùng thức ăn, thức uống và hoa quả của tứ phương chúng tăng.

Có rồng nói:
- Tôi đến chùa cúng dường chúng tăng, hoặc lễ bái và cũng ăn uống như thế.
Rồng khác nói:
- Tôi từng làm người cư sĩ ở trong pháp hội của Phật Tì-bà-thi. Rồng khác lại nói:
- Tôi từng làm người cư sĩ ở trong pháp hội của Phật Thích-ca Mâu-ni, hoặc do nhân duyên quen biết thăm hỏi, hoặc tới lui nghe pháp mà qua lại chốn chùa chiền. Những người có lòng tin đem các thứ hoa quả, đồ ăn, thức uống cúng dường chúng tăng. [85b]Tì-kheo nhận rồi, trở lại cho tôi, tôi liền thụ. Vì nghiệp duyên ấy, nên tôi bị đọa vào địa ngục trải qua vô số kiếp, hoặc bị thiêu nấu ở trong lửa dữ, hoặc uống nước đồng sôi, hoặc nuốt hòn sắt nóng… Ra khỏi địa ngục, tôi đọa làm súc sinh; bỏ thân súc sinh, lại sinh vào loài ngạ quỷ, chịu nhiều sự thống khổ như thế. Nhưng vì nghiệp ác chưa hết, nên tôi phải sinh trong loài rồng này, thường bị khổ đau.
Đức Phật dạy:
- Những nghiệp ác này không khác gì trộm vật của Phật… Tội này bằng nửa năm tội nghịch. Nay ngươi nên suốt đời quy y tam bảo, dốc lòng tu thiện. Nhờ công đức này, trong đời hiền kiếp, các ngươi sẽ gặp vị Phật cuối cùng hiệu là Lâu-chí330. Vào thời Đức Phật ấy, tội lỗi của các ngươi sẽ được dứt trừ.
Sau khi nghe Phật dạy, tất cả rồng đều chí thành, nguyện suốt đời thụ trì tam quy.

Bấy giờ, trong số ấy, có vợ của con rồng mù, miệng bị lở loét, đầy dẫy giòi bọ, hôi thối giống như phân tiểu, cho đến những thứ dơ uế toát từ thân căn


của người nữ, thật là khó nhìn. Khi nó ăn uống, thì máu mủ chảy ra. Toàn thân thường bị ruồi muỗi, các loài trùng độc cắn rỉa, ăn thịt. Thân thể hôi thối, chẳng ai dám nhìn.
Lúc ấy, với lòng đại bi, Đức Phật nhìn thấy vợ của rồng kia mù lòa khốn khổ như thế, bèn hỏi:
- Vì sao ngươi phải mang lấy thân xấu xa như vậy, trong quá khứ đã từng làm nghiệp gì?
 Rồng vợ đáp:
 - Bạch Đức Thế Tôn, thân của con đây phải chịu các thứ khổ bức bách, không có lúc nào tạm dừng, giả sử muốn nói cũng không thể nói được. Con nhớ lại, vào thời quá khứ cách đây ba mươi sáu ức kiếp, trong trăm nghìn năm, con sinh vào loài rồng chịu khổ như thế, suốt cả ngày đêm, không phút giây tạm dừng. Lại trong chín mươi mốt kiếp xa xưa, vào thời Phật Tì-bà-thi, con từng làm tì-kheo ni ở trong Phật pháp, thường nghĩ đến việc dâm dục hơn cả người say. Tuy đã xuất gia, nhưng con không thực hành đúng pháp, trong chốn già-lam trái phạm giới luật, nên thường bị thiêu nướng trong ba đường ác.
Trình bày xong, rồng bạch Phật:
- Xin Ngài cứu con!
Nghe rồng kể lại sự thật như thế, Đức Phật lấy một ít nước đổ vào miệng rồng. Khi ấy lửa và giòi bọ, máu mủ đều tan biến. Miệng được sạch sẽ, rồng lại thưa:
- Đại Thánh Như Lai! Con nhớ thuở quá khứ, thời Phật Ca-diếp, con từng làm người cư sĩ. Một hôm, con đang cày ruộng, có vị tì-kheo đến xin con năm mươi đồng tiền. Khi ấy, con trả lời:
- Đợi khi lúa chín, tôi sẽ cúng cho ngài. Vị tì-kheo nói:
- Nếu không thể cho năm mươi đồng thì cho xin mười đồng cũng được.

Lúc đó, con tức giận, nói với vị tì-kheo:
- Dù chỉ mười đồng, tôi cũng không cho.
Bấy giờ, vị tì-kheo sinh lòng buồn khổ, ra về.
 
[85c] Lại một lần khác, con vào vườn cây của chùa trộm lấy mười quả xoài là vật của hiện tiền tăng, rồi ăn một mình. Do nghiệp ác này, nên con chịu khổ trong chốn địa ngục. Nghiệp ác ấy chưa hết, con phải sinh làm rồng đói ở nơi đầm vắng, thường bị các loài côn trùng cắn rỉa, ăn thịt, máu mủ chảy khắp, đói khát khổ não. Còn vị tì-kheo kia do nghiệp ác của lòng sân giận, nên chết đọa làm con rồng độc nhỏ sống trong nách con để hút máu, hơi nóng xông khắp thân, không thể chịu được. Thế nên, thân con nóng bức, máu mủ đầm đìa.
Rồng lại bạch Phật:
- Xin Ngài từ bi thương xót cứu con, để con mau được thoát khỏi rồng độc oan gia này!
Bấy giờ, Đức Phật dùng tay vốc nước, phát nguyện và kể rằng:
 - Thuở xưa, gặp thời đói khát, Ta phát nguyện làm một con vật có thân to lớn, dài rộng vô lượng, rồi dùng năng lực thần thông ở giữa hư không xướng lên rằng:
 - Trong đầm vắng kia, có một con vật to lớn, tên là Bất Sân, các người nên đến lấy thịt của nó về làm thức ăn cho khỏi đói.
- Người, phi nhân v.v.. nghe lời này, tất cả đều tranh nhau đến ăn thịt nó. Nghe Phật phát nguyện và kể lại sự thật này, con rồng nhỏ ở dưới nách
rồng kia bèn chui ra, cả hai cùng bạch Phật:
 - Bạch Đức Thế Tôn! Đến khi nào chúng con mới hết kiếp rồng, dứt sạch tội báo?
  Đức Phật bảo:

- Nghiệp này rất nặng, sẽ bị đọa địa ngục Ngũ Vô Gián331. Vì sao? Nếu có vật của tứ phương tăng332, hoặc vật của hiện tiền tăng333, vật do đàn-việt có niềm tin sâu dày dâng cúng, như hoa quả, vườn cây, đồ ăn, thức uống, giường chiếu, tọa cụ, thuốc thang… mà mình tự tiện tiêu xài riêng, hoặc mang ra ngoài cho những người cư sĩ, bạn bè quen biết, tội này rất nặng, phải chịu quả báo nơi địa ngục A-tỳ. Vì thế, các ngươi nên thụ trì tam quy. Sau khi quy y tam bảo, các ngươi mới có thể sống trong dòng nước lạnh. Ba lần xưng, ba lần thụ như thế, các ngươi sẽ được an ổn sống trong dòng nước ấy”.

 
Bấy giờ, Đức Phật liền nói kệ cho các con rồng nghe:
 
Thà dùng dao bén tự xẻ thân,
 Từng đoạn xương khớp, thịt, da, gân, Tài vật do đàn-việt dâng cúng,
Cư sĩ thế tục chẳng có phần.
 Thà nuốt sắt nóng cháy phừng phừng, Khiến cho miệng lưỡi lửa bốc lên,
Đồ ăn, thức uống của tăng chúng, Cư sĩ không nên lén tự dùng.
Là người cư sĩ sống tại gia, Thà đem lửa lớn như Tu-di,
Tự tay bốc lấy bỏ vào miệng, 

Chứ không dám dùng vật của tăng. [86a]  
Thà dùng dao bén xẻ thân mình,  
Tự ăn da thịt của bản thân, 
Nếu là người tại gia cư sĩ,
Không nên nhận thức ăn tăng chúng.  
Thà tự gieo mình vào ngọn lửa, 
Đang cháy phừng phực khắp căn phòng,  
Nếu là người tại gia cư sĩ 
Chớ ngồi, chớ nằm giường chúng tăng.  
Thà dùng chày sắt nung lửa dữ, 
Đưa tay cầm lấy bị cháy tiêu, 
Nếu là người tại gia cư sĩ, 
Không nên lén dùng vật của tăng.  
Thà dùng dao chày thật bén tốt,  
Tự lóc, giả thịt của bản thân, 
Đối với hàng xuất gia thanh tịnh, 
Chớ khởi lên một niệm giận sân. 
Thà tự tay móc hai mắt mình, 
Vứt bỏ, quăng ném xuống nền đất,  
Đối với người tu tập pháp lành,

Không nên nhìn bằng tâm sân giận.  
Thà lấy tấm sắt nóng quấn thân,
Đi đứng, ngồi nằm thân chẳng yên, Chớ khởi tâm sân, sinh đố kị,
Mà khoác y thanh tịnh của tăng. Thà uống nước tro hay nước muối, Nước sôi phỏng miệng như lửa bỏng, Không nên ôm lòng tham, sân, ác, Uống thuốc đàn-việt cúng chúng tăng.

Sau khi Đức Phật nói bài kệ này, bầy rồng một vạn bốn nghìn con đều thụ trì tam quy, tất cả nghiệp báo khổ đau trong quá khứ, hiện tại đều được tiêu trừ, tin sâu tam bảo, tâm không lui sụt. Lại có các bầy rồng khác gồm tám mươi ức con cũng phát tâm quy y tam bảo.
 
Kinh Đại tập ghi: “Có vị tì-kheo nhận được tất cả những vật dụng cần thiết. Tất cả vật dụng ấy đều do đàn-việt có tín tâm cúng dường. Vậy mà vị này hoặc để mình ăn, hoặc cho người khác, hoặc cùng mọi người lén lấy cất giấu, dùng riêng ở chỗ khuất. Vì những việc làm như thế, nên vị này đọa vào ba đường ác, mãi chịu khổ đau.
 
Lại có chúng sinh nghèo cùng hèn hạ, không được an ổn, cho nên xuất gia mong được giàu có, an ổn vui sướng. Thế nhưng, sau khi xuất gia, vị ấy biếng nhác, không chịu đọc tụng kinh điển, không siêng năng tu tập thiền định, trí tuệ, chỉ thích tò mò việc của tăng.

Lại có tì-kheo ngày đêm siêng năng tu tập pháp lành, đọc tụng kinh điển, tọa thiền, tu tuệ không phút giây lơ là. Nhờ công đức này, vị ấy được bốn chúng cúng dường đầy đủ. Bấy giờ, vị ấy làm tri sự được nhiều lợi dưỡng, rồi hoặc lấy dùng riêng, hoặc lén cho những người thế tục thân quen. Do nghiệp duyên này, vị ấy ở mãi trong đường ác, ra rồi lại vào. Kẻ ngu si như thế không sợ quả báo đời sau nặng nhẹ ra sao. [86b] Thế nên, nay Ta răn nhắc các đệ tử sa-môn: ‘Hãy nhớ nghĩ đến pháp mà hành trì, không được tự xưng: ‘Tôi là sa-môn, tu hành đúng chính pháp’. Nhờ nương tựa vào chúng tăng, nên các ông được nhận các vật do đàn-việt cúng dường, như bánh, rau, hoa, quả, nhưng đó là vật thực của chúng tăng, không được tự tiện lấy cho người thế tục, cũng không được nói: ‘Đó là vật của tôi’, rồi ăn biệt334 chúng”.
 
Lại nữa, cũng không được lấy vật của chúng tăng cất chứa, kiếm lời, mua bán đổi chác… bảo là làm lợi ích, để rồi phải bị người đời chê bai. Lại cũng không được mua rẻ bán đắt, để tranh lợi với đời. Lại cũng không được vì việc ăn uống hay việc tăng mà làm cho chúng sinh bị rơi vào ba đường ác, phải nên khuyên bảo họ an trú trong pháp lành để họ có niềm tin vững chắc vào tam bảo, nhiếp hộ tất cả chúng sinh cho đến cha mẹ, đều được an ổn, đắc ba môn giải thoát335.
 
Kinh Thập luân ghi: “Nếu vật của tứ phương tăng, hoặc các vật dụng cần thiết v.v.., mà không chia cho những người trì giới, phá giới, người này sau khi mạng chung, sẽ đọa vào địa ngục A-tì”. 


(Trích CHƯ KINH YẾU TẬP Nguyên tác: Pháp Sư Đạo Thế

Việt dịch: Ban dịch thuật Hán tạng Pháp Âm

 Chủ nhiệm: Tỳ kheo Thích Nguyên Chơn

  Phó chủ nhiệm (Hiệu đính văn nghĩa): Bồ-tát giới Định Huệ

 Biên tu: Tiến sĩ Quảng Âm - Đoàn Ánh Loan)

Ghi Chú: 

329 Túc mạng tâm 宿命心(Cg: túc mạng trí): trí biết được những thụ báo sai biệt, thiện ác khổ vui trong một đời

hay trong vô lượng đời ở quá khứ.
 330 Lâu Chí 樓至 (S: Rudita, Rucika): vị Phật xuất thế sau cùng trong số một nghìn vị Phật trong kiếp Hiền.
331 Địa ngục Ngũ Vô Gián (Ngũ Vô Gián địa ngục 五無間地獄): địa ngục có năm quả báo vô gián, tức chỉ cho

địa ngục A-tì. Năm quả báo vô gián là thời vô gián, hình vô gián, thụ khổ vô gián, thú quả vô gián và mạng vô gián.

332 Vật của tứ phương tăng (tứ phương tăng vật 四方僧物): chỉ cho các vật cúng dường đến từ nơi khác và thuộc
về vật dùng chung của tất cả tì-kheo, như chùa chiền, kho lẫm, ruộng vườn, cơm gạo, y phục, thuốc men…
333 Vật của hiện tiền tăng (hiện tiền tăng vật 現前僧物): đồ vật mà chúng tăng hiện tiền có thể thụ dụng theo nhu
cầu vật chất trong cuộc sống, như y phục, thực phẩm, thuốc men và những di vật của vị tì-kheo đã mất.
 

0 Kommentare:

New Comments

Chia Sẻ

Twitter Delicious Facebook Digg Stumbleupon Favorites