10 tháng 4 2016

THAM THIỀN CÙNG NIỆM PHẬT

http://www.phattuvietnam.net/thumbnail.php?file=2009/08/hv_988601837.jpg&size=article_medium"Xả bỏ muôn duyên, chẳng sanh một niệm", là điều kiện tiên quyết của việc tham thiền. Chúng ta phải nên biết rõ. Làm thế nào để hành được? Trên đã nói rõ là một niệm nếu ngưng, thì đạt thẳng đến vô sanh, chứng ngay đạo Bồ Ðề, không còn vương vấn tơ hào gì hết. Kế đến dùng lý mà dẹp trừ sự, tức biết rõ tự tánh bổn gốc vốn thanh tịnh, thì phiền não và Bồ Ðề, sanh tử cùng Niết Bàn đều là giả danh, chẳng can hệ gì với tự tánh của chúng ta.
 
Tham thiền cùng niệm Phật.
  Người niệm Phật, ai ai cũng hủy báng tham thiền. Người tham thiền, ai ai cũng hủy báng niệm Phật. Ví như khi đối đầu với cái chết, chúng ta lại muốn đối phương sớm chết theo mình. Ðây là hiện tướng xấu xa trong nhà Phật, thật rất đau lòng! Thế tục có câu: "Gia đình hòa hợp thì muôn sự đều hưng thịnh. Gia đình ai oán thì miệng chẳng ngon."

Huynh đệ chửi mắng lẫn nhau, chẳng lẽ không bị người đời cười chê cùng khinh khi sao!
Tham thiền, niệm Phật cùng các pháp môn khác đều do kim khẩu của Phật Thích Ca thuyết ra. Ðạo vốn không hai, chỉ do căn khí nghiệp duyên của chúng sanh không đồng, nên Phật tùy theo bịnh mà cho thuốc. Vì phương tiện nên đức Phật thuyết ra nhiều pháp môn để nhiếp thọ giáo hóa quần sanh. Sau này, chư đại đức y theo giáo lý mà phân tông phái; bất quá chỉ do đối cơ mà thuyết pháp. Nếu người muốn tu trì để trở về tự tánh, thì chỉ cần bước vào một cửa là có thể nhập đạo diệu môn, vì bổn gốc vốn không phân biệt cao thấp. Các pháp xưa nay vốn hỗ tương thông đạt, viên dung vô ngại. Nếu như niệm Phật đến nhất tâm bất loạn, thì có khác gì với tham thiền! Tham thiền đến độ năng sở cả hai đều mất, thì có khác gì với thật tướng niệm Phật! Thiền tức là Thiền trong Tịnh Ðộ. Tịnh Ðộ tức là Tịnh trong Thiền. Thiền và Tịnh Ðộ vốn tương trợ lẫn nhau. Sao thế nhân khởi tâm chấp trước một bên, thấy cửa này nhà nọ, tự tán thán mà hủy báng kẻ khác, giống như nước với lửa chẳng bao giờ tương dung, khiến phản lại thâm ý phân tông khác giáo của Phật Tổ! Lại nữa, có thể vô ý phạm trọng tội hủy báng Phật pháp. Thật có đáng thương lắm không! Hy vọng quý vị đồng nhân, không luận tu trì pháp môn nào, đều phải thể hội thâm sâu yếu chỉ vô tranh của Phật Tổ, chớ múa gậy đánh nhau trong nhà. Mọi người phải hợp lực đồng tâm, cứu độ con thuyền Bát Nhã trên sóng ba đào.

XIV. Những điều kiện tiên quyết khi tham thiền.

Mục đích của tham thiền là minh tâm kiến tánh, tức quét trừ tự tâm ô nhiễm, để chân thật thấy rõ bổn lai diện mục của tự tánh. Ô nhiễm tức là vọng tưởng chấp trước. Tự tánh tức là trí huệ đức tướng của Như Lai. Ðối với đức tướng trí huệ của Như Lai, Phật và chúng sanh đều đồng có đầy đủ, không hai không khác. Nếu xa rời được vọng tưởng chấp trước thì tự mình sẽ đắc được trí huệ đức tướng của Như Lai, tức là Phật. Ngược lại thì làm chúng sanh. Chỉ vì chúng ta từ vô lượng kiếp cho đến nay, mê mờ lưu lạc trong vòng sanh tử, và bị nhiễm ô đã lâu, nên không thể thoát khỏi được vọng tưởng chấp trước mau chóng được. Muốn thấy rõ bổn tánh chân thật, phải nên tham thiền. Vì thế, điều kiện tiên quyết nhất khi tham thiền là phải dẹp trừ vọng tưởng. Làm sao dẹp trừ vọng tưởng? Phật Thích Ca thuyết pháp rất nhiều, nhưng đơn giản không ngoài chữ "ngưng". "Ngưng tức Bồ Ðề".
Thiền tông do Ðạt Ma Tổ Sư từ bên Ấn Ðộ truyền qua đông độ, cho đến đời Lục Tổ, thì gió thiền lan rộng khắp nơi, chấn động chiếu sáng cổ kim. Những điều tối quan trọng mà Ðạt Ma Tổ Sư cùng Lục Tổ thường dạy là "dẹp hết muôn duyên, chẳng sanh một niệm."
Dẹp hết muôn duyên, tức xả bỏ hết các duyên. Ðây là điều kiện tiên quyết cho việc tham thiền. Nếu chưa hành được hai câu này thì chẳng những tham thiền không thể thành công mà nhập vào các môn khác cũng không thể được. Muôn duyên vẫn còn ràng buộc, và niệm niệm vẫn còn sanh diệt, thì đàm luận đến việc tham thiền được sao!
"Xả bỏ muôn duyên, chẳng sanh một niệm", là điều kiện tiên quyết của việc tham thiền. Chúng ta phải nên biết rõ. Làm thế nào để hành được? Trên đã nói rõ là một niệm nếu ngưng, thì đạt thẳng đến vô sanh, chứng ngay đạo Bồ Ðề, không còn vương vấn tơ hào gì hết. Kế đến dùng lý mà dẹp trừ sự, tức biết rõ tự tánh bổn gốc vốn thanh tịnh, thì phiền não và Bồ Ðề, sanh tử cùng Niết Bàn đều là giả danh, chẳng can hệ gì với tự tánh của chúng ta.
Sự sự vật vật, đều như mộng huyễn bong bóng nước. Sắc thân bốn đại của chúng ta cùng núi sông đất đá, đều nằm trong tự tánh. Chúng giống như bọt nước trong biển, lúc khởi lúc diệt, không ngăn ngại bổn thể. Chớ nên chạy theo tất cả huyễn sự sanh trụ dị diệt mà khởi tâm vui thích, nhàm chán, thủ xả. Thân này phải phóng xả, như người đã chết, thì tự nhiên căn trần, tâm thức liền tan biến, và tham sân si dâm ái đều tiêu diệt. Tất cả nỗi thống khổ của thân như khổ vui, cơ hàn, đói khát, vinh nhục, sanh tử, phước họa, kiết hung, khen chê, được mất, bình an, hiểm nạn, đều là bên ngoài, phải nên xả bỏ. Xả bỏ được một, thì sẽ xả bỏ được tất cả; mãi mãi xả bỏ, đó gọi là xả bỏ muôn duyên. Xả bỏ muôn duyên được thì vọng tưởng tự tiêu mất. Nếu không khởi tâm phân biệt thì xa rời chấp trước. Một niệm chẳng sanh thì tự tánh chiếu sáng, và toàn thể tánh đều được hiển lộ. Khi những điều kiện tu thiền đã đầy đủ, lại phải tiếp tục dụng công chân thật tham cứu, thì việc minh tâm kiến tánh, chắc sẽ có phần.
Ngày ngày thường có thiền nhân đến thưa hỏi. Song, pháp vốn thật không phải pháp. Nếu lạc vào ngôn từ, tức không phải thật nghĩa. Hiểu rõ tâm này, tức gốc vốn là Phật. Xả bỏ hết vô sự, thì mỗi mỗi đều hiện thành. Nói tu nói chứng, đều là lời ma. Tổ Ðạt Ma đến Ðông Ðộ để "Trực chỉ chân tâm, kiến tánh thành Phật."
Ngài chỉ thật rõ ràng, là tất cả chúng sanh trên cõi đất đều sẽ thành Phật. Phải nhận rõ tự tánh thanh tịnh; nó tùy thuận vô nhiễm. Trong mười hai thời, đi đứng nằm ngồi, tâm bình không loạn, tức là hiện thành Phật, mà không cần dụng tâm dụng sức, hay không cần dùng chút tơ hào lời nói tư duy hoặc làm việc này việc nọ. Thế nên, bảo rằng thành Phật là việc rất dễ dàng, và rất tự tại, vì vốn đã nằm sẵn trong tâm mình, không cần chạy ra ngoài tìm cầu. Tất cả chúng sanh trên cõi đất, nếu không thể kham nổi bao kiếp luân hồi, trôi lăn trong bốn loài sáu đường, trầm luân trong biển khổ, mà nguyện ước thành Phật, đạt đến thường lạc ngã tịnh, thì phải tin chắc thật lời dạy dỗ răn nhắc của Phật Tổ, tức xả bỏ tất cả. Chẳng nghĩ thiện ác, thì lập tức thành Phật. Chư Phật Bồ Tát cùng lịch đại Tổ Sư phát nguyện độ hết tất cả chúng sanh, đều có bằng cứ, chứ chẳng phát đại nguyện trống không, hay giảng lời rỗng tuếch.
Bên trên đã nói, pháp là như thế. Xiển minh kinh điển Phật Tổ, đã được đinh ninh phó chúc. Chân ngữ thật ngữ, chẳng có tơ hào hư dối. Chúng sanh trong đại địa, từ vô lượng kiếp đến nay, luôn bị trầm luân trong biển khổ sanh tử, đầu xuất đầu mất, luân chuyển không ngừng, mê hoặc điên đảo, bỏ giác hiệp với trần lao. Ví như vàng ròng bị rớt xuống hầm phẩn, không thể dùng được, nhưng chẳng bị nhiễm ô. Phật dùng tâm đại từ đại bi, bất đắc dĩ phải thuyết tám mươi bốn ngàn pháp môn, để đối trị tham sân si ái v.v..., tám mươi bốn ngàn tập khí, bệnh tật của muôn loại chúng sanh (có căn khí sắc dạng khác nhau). Ví như tuy vàng ròng bị nhơ nhuốc, mà nay chư Phật dạy quý vị dùng nạo, bàn chải, nước, vải, v.v... để tẩy rửa mài giũa. Pháp Phật thuyết ra, môn môn đều là diệu pháp, và có khả năng cắt đứt sanh tử, chóng thành Phật đạo. Chỉ có vấn đề là hợp căn cơ hay không hợp căn cơ, chẳng nên cưỡng ép phân biệt pháp môn cao thấp.
Năm pháp môn rất phổ thông thịnh hành ở nước Tàu là tông, giáo, luật, tịnh, mật. Tùy theo ý thích và căn tánh của mỗi người, có thể tự chọn lụa một pháp môn ứng hợp. Nói chung, phải thâm nhập vào một pháp môn, dài lâu chẳng đổi, thì mới mong thành tựu.
Tông môn chú trọng tham thiền. Tham thiền để "minh tâm kiến tánh", tức là tham thấu bản lai diện mục của mình. Vì thế bảo rằng ngộ rõ tự tâm, thấy suốt bổn tánh. Pháp môn này, bắt đầu từ khi Phật đưa cành hoa lên, cho đến sau khi Ðạt Ma Tổ Sư truyền thừa sang đông độ; người hạ thủ công phu, thường luôn uyển chuyển. Chư thiền đức trong đời Ðường (618-907), Tống (960-1279), phần nhiều đều do nghe một lời hay nửa câu, thì liền ngộ đạo. Thầy trò truyền thọ, dùng tâm ấn tâm, nhưng chẳng có pháp thật. Ngày thường tham vấn đối đáp, bất quá chỉ tùy phương tiện mà giải kiết phược, hay nhân bệnh mà cho thuốc. Sau đời Tống, căn khí con người ngày càng chậm lụt; giảng được mà không làm được. Ví như câu: "Xả bỏ tất cả", hay "Chớ nghĩ thiện ác", đều không thể hành được. Nói không suy nghĩ việc thiện, lại đi suy nghĩ việc ác. Vì thế, chư Tổ Sư bất đắc dĩ mới chọn lựa biện pháp, dùng độc trị độc, tức dạy người tu học tham khán công án. Bắt đầu là quán thoại đầu. Thậm chí phải nắm chặt câu thoại đầu trong từng sát na, mãi mãi không rời, cho đến chết, chẳng bỏ mất. Như chuột gặm quan tài, chỉ ở một chỗ, không thông không ngừng. Mục đích là dùng một niệm để chế phục muôn niệm. Thật ra đây chỉ là biện pháp bất đắc dĩ; như thân bị mụn độc, nếu không dùng dao mỗ xẻ chữa trị thì khó mà sống nổi.
Công án của người xưa rất nhiều. Kẻ sau chuyên giảng khán thoại đầu, như "quán thây chết này là ai", hay "trước khi cha mẹ sanh ra, mặt mũi chân thật của mình là gì". Từ từ các nơi xa gần thường dùng câu thoại đầu "niệm Phật là ai".
Thật ra, tất cả câu thoại đầu đều đồng một dạng, và đều rất bình thường, chẳng có chi là kỳ lạ. Ví như nói câu xem khán người tụng kinh là ai, niệm chú là ai, lễ Phật là ai, ăn cơm là ai, mặc y áo là ai, đi đứng là ai, ngủ nghỉ là ai, v.v... ý nghĩa của tất cả câu trên, đều như nhau. Giải đáp được chữ "ai", tức là thấy tâm. Lời nói từ tâm khởi. Tâm dẫn đầu câu thoại đầu. Niệm từ tâm khởi. Tâm dẫn đầu ý niệm. Muôn pháp từ tâm sanh. Tâm là đầu nguồn của muôn pháp. Thật vậy, thoại đầu tức là niệm đầu. Niệm đầu tiên tức là tâm. Lúc một niệm chưa sanh thì đó là thoại đầu. Do đó, chúng ta biết rõ, khán thoại đầu tức là quán tâm. Khi cha mẹ chưa sanh, bản lai diện mục của chúng ta tức là tâm. Xem coi bản lai diện mục của chúng ta, trước khi cha mẹ sanh ra vốn là gì, thì đó là quán tâm. Tánh tức là tâm. "Phản văn văn tự kỷ" tức là nghe lại tự tánh của mình, hay quán lại tự tâm. "Viên chiếu thanh tịnh giác tướng", tức là tướng giác ngộ thanh tịnh chiếu sáng tròn đầy. Tướng giác thanh tịnh tức là tâm. Chiếu tức là quán. Tâm tức là Phật. Niệm Phật tức là quán Phật. Quán Phật tức là quán tâm. Vì vậy, "khán thoại đầu", hay bảo "khán người niệm Phật là ai", tức là quán tâm, cũng là quán chiếu thể giác thanh tịnh của tâm mình, nghĩa là quán chiếu tự tánh Phật tánh. Tâm tức là tánh, là giác, là Phật, vốn chẳng có hình tướng phương hướng, nên không thể nắm bắt. Tánh chất của tâm vốn thanh tịnh, biến khắp pháp giới, không vào không ra, không đến không đi, tức là hiện thành bổn lai pháp thân thanh tịnh của chư Phật.
Hành nhân phải nhiếp hộ sáu căn; nơi một niệm vừa sanh khởi, phải quán sát chiếu cố câu thoại đầu. Khởi tâm quán sát cho đến lúc tự tâm thanh tịnh rời niệm. Lại phải thầm lặng liên tục, điềm điềm đạm đạm, tịch tĩnh mà quán chiếu, để nhìn thấu năm uẩn đều không, thì thân tâm bèn tròn đầy tịch tĩnh, chẳng có một vật. Ngày đêm sáu thời, đi đứng nằm ngồi, như như bất động; lâu ngày công phu thâm hậu, thì có khả năng thấy tánh thành Phật, tức trừ hết mọi khổ đau nguy hiểm.
Khi xưa, tổ sư Cao Phong bảo:
- Học giả thường xem khán câu thoại đầu, như liệng một cục đá thẳng xuống đáy hồ sâu muôn thuớc. Nếu trong bảy ngày mà không khai ngộ, thì hãy chặt đầu lão tăng.
Quý vị đồng tham học! Ðây là lời của người xưa, vốn là chân ngữ thật ngữ, không dối lừa gạt gẫm ai!
Tại sao trong đời nay, người quán thoại đầu thì nhiều, nhưng người ngộ đạo thì chẳng được bao nhiêu? Ðây là do căn khí của người đời nay không thể sánh bằng người xưa. Lại nữa, do người tu thiền chưa hiểu rõ nghĩa lý của việc khán thoại đầu. Có người tham đông tầm tây, vào nam ra bắc, kết quả huyên náo ồn ào cho đến già; đối với một câu thoại đầu cũng không biết gì cả. Không biết rõ thoại đầu thì làm sao tu thiền khán thoại đầu. Cả đời chỉ lo chấp trước vào văn tự danh tướng, nên chỉ biết dụng tâm quán thoại đuôi.
"Ai đang niệm Phật"! "Chiếu cố thoại đầu"! Khán tới khán lui, tham đi tham lại, vác câu thoại đầu, đi khắp đông tây, có lý nào ngộ được bản nhiên vô vi của đại đạo? Khi nào mới đạt đến địa vị pháp vương, không thọ tất cả muôn vật? Mạt vàng rơi vào mắt, khiến bị mù lòa, làm sao thấy vàng tỏa ánh hào quang được! Thật đáng thương lắm thay! Như có nhi nữ, rời nhà học đạo, chí nguyện phi thường, nhưng kết quả chẳng đạt gì hết, thật uổng phí công lao. Thật tiếc thay! Cổ nhân bảo:
- Thà ngàn năm không ngộ đạo, còn hơn một ngày đi lạc đường.
Tu hành ngộ đạo, tuy dễ mà khó, và tuy khó mà dễ. Ví như mở đèn điện, nếu biết cách, chỉ dùng một ngón tay, thì ánh sáng đèn sẽ chiếu sáng, khiến ngàn năm u minh hắc ám liền trừ tận. Nếu không biết cách thì sẽ làm hư hoại dây điện bóng đèn, rồi phiền não ngày càng tăng trưởng. Ví như có vài người tham thiền quán thoại đầu, khi gặp ma cảnh thì phát điên phát cuồng, ho ra máu, bị bệnh tật, khiến lửa vô minh càng cháy sáng, kiến chấp mình người ngày càng nặng nề; rõ ràng có phải do sự chấp trước không? Vì thế, người dụng công tham thiền, cần phải điều hòa thân tâm, khiến tâm bình khí hòa, không quái không ngại, không mình không người, tức đi đứng nằm ngồi, đều diệu hợp huyền cơ.
Pháp môn tham thiền, vốn không thể khởi tâm phân biệt. Song, khi khởi công phu tu đạo, người sơ cơ có sự khó dễ riêng. Người tu lâu năm có sự khó dễ riêng.
Cái khó của người mới bắt đầu tham thiền là nơi nào? Thân tâm chưa thuần thục; cửa ngỏ đường lộ chưa thông chưa rõ; công phu không thể nào tiến triển, nên trong tâm dần dần sanh giải đãi, chỉ ngồi thiền ngủ nghê cho qua ngày tháng. Kết quả: "Năm đầu tham thiền. Năm thứ hai là lão tham thiền. Năm thứ ba chẳng còn tham thiền."
Ngược lại, cái dễ của người sơ cơ ở chỗ nào? Chỉ cần thiết có tín tâm đầy đủ, có tâm lâu dài, và dụng vô tâm, thì tu hành rất dễ. Bàn về tín tâm, lại có hai phần. Thứ nhất, tin tâm mình vốn là Phật, cùng ba đời chư Như Lai đều không sai khác. Thứ hai, tin pháp Phật Thích Ca thuyết giảng, mỗi mỗi đều có thể cắt đứt sanh tử, thành tựu Phật đạo. Bàn về tâm lâu dài, tức là khi đã chọn một pháp môn, thì phải hành trì suốt cả đời, cho đến đời tương lai, cũng phải tu trì. Muốn tham thiền thì phải tham khán cách như thế. Muốn niệm Phật hoặc trì chú thì cũng phải hành trì như vậy. Người muốn học giáo lý thì phải hành trì theo thứ tự: Văn, tư, tu. Dầu tu pháp môn nào đi nữa, điều quan trọng căn bản là phải giữ giới. Nếu làm được như thế thì tương lai sao không thể thành tựu đạo nghiệp được!
Ngài Quy Sơn bảo:
- Nếu người có thể hành pháp này, ba đời không thối chuyển thì quả vị Phật quyết định sẽ có kỳ.
Ngài Vĩnh Gia cũng nói:
- Nếu dùng lời vọng ngữ dối gạt chúng sanh thì mãi mãi sẽ bị đọa lạc vào địa ngục cắt lưỡi hằng sa kiếp.
Gọi vô tâm, tức là xả bỏ hết tất cả, dạng như người chết. Cả ngày tùy duyên mà làm việc, không khởi một niệm phân biệt chấp trước, thì mới trở thành vô tâm đạo nhân.
Người sơ học nếu đã đủ ba tâm (tâm dài lâu, tâm kiên cố, và vô tâm), khi tham khán câu thoại đầu "Ai đang niệm Phật", tức tự mình niệm thầm câu "A Di Ðà Phật", rồi khán xem người niệm Phật đó là ai, và niệm khởi từ đâu? Từ đâu khởi lên một niệm? Nên biết một niệm chẳng khởi từ miệng của mình, cũng không phải khởi lên từ nhục thân này. Nếu tâm niệm khởi từ thân hay miệng thì khi chết đi, thân miệng vẫn còn đó, sao lại không niệm được? Nên biết rằng niệm khởi từ tâm, tức từ tâm mà có niệm khởi. Nhìn thẳng chăm chăm vào, như mèo rình chuột; tập trung tất cả sức lực tinh thần, chẳng sanh hai niệm. Chớ gấp gáp muốn mau thành tựu, vì sẽ dễ dàng phát sanh bệnh chướng. Ði đứng nằm ngồi đều phải như thế. Công phu lâu ngày thâm sâu, như quả chín sắp rụng. Khi nhân duyên đến, đụng tới quả liền rụng, tức đột nhiên đại ngộ. Lúc ấy như người uống nước, tự biết nóng lạnh, liền đạt đến nơi vô ngại, như tại ngã ba đường, gặp được cha mình, nên đắc đại an lạc.
Người tham thiền lâu năm gặp những việc khó dễ nào? Gọi lão tham thiền tức là người đã từng thân cận, gần gũi thiện tri thức, hay dụng công nhiều năm, và đã từng trải qua một thời gian rèn luyện, nên thân tâm thuần thục, biết rõ đường tu, tự tại dụng công, không sợ khổ nhọc. Việc khó của các bậc lão tham thiền thượng tọa là trong cảnh giới tự tại, sáng sủa rõ ràng, lại ngừng tu để hưởng thụ, như dừng chân tại hóa thành, không muốn đến bảo sở. Thường tịch tĩnh chớ không thường động, nên không thể đắc được thọ dụng chân thật. Thậm chí lúc gặp cảnh thì tình sanh, rồi cố chấp thủ xả. Tâm khởi việc thích thú chán chường rõ rệt, nên cứ bị vọng tưởng thô và tế bó buộc. Dụng công phu như băng giá đóng đá gạch, không thể khởi tác dụng. Dần dần, sanh bệnh giải đãi, rồi cuối cùng không thể đắc quả khởi dụng. Lão tham thiền thượng tọa, biết rõ điều khó khăn này thì phải nên lập tức đề khởi câu thoại đầu, phấn chấn tinh thần; nơi cây tre trăm thước, phải tấn thêm bước nữa, để đạt đến quả vị cao hay lặn sâu dưới đáy biển. Khi ấy mặc tình thỏng tay tung hoành, đi đó đây, lễ bái tương kiến Phật Tổ.
Thoại đầu tức là nhất tâm. Nhất tâm niệm của chúng ta, không ở trung gian trong ngoài, mà cũng trú tại trung gian trong ngoài, giống như hư không chẳng động mà biến khắp mọi nơi. Thế nên, cũng chẳng cần đề câu thoại đầu lên cao, hay cũng chẳng cần đề câu thoại đầu quá thấp. Ðề khởi thoại đầu lên cao quá thì sẽ bị trạo cử. Ðề khởi thấp quá thì sẽ bị lạc vào hôn trầm, trái ngược tâm tánh, chẳng phải trung đạo. Mọi người đều sợ vọng tưởng, nên việc hàng phục chúng rất khó. Tôi xin thưa với quý vị rằng chớ sợ vọng tưởng, cũng chẳng cần phí công sức hàng phục chúng. Quý vị chỉ việc nhận rõ vọng tưởng, không nên chấp trước vào chúng, không chạy theo chúng, lại cũng chẳng cần đuổi dẹp chúng; chỉ việc ngưng tâm tương tục, thì vọng tưởng tự rời. Vì vậy bảo rằng biết vọng khởi tức giác. Giác tức rời vọng tưởng.
Phải nên lợi dụng vọng tưởng mà hạ công phu, như xem khán coi chúng xuất phát từ chỗ nào. Nếu nhận ra vọng tưởng vốn vô tánh, đương thể tức không, liền trở về tâm tánh bổn không của chúng ta. Tự tánh pháp thân thanh tịnh của chư Phật ngay nơi đó liền hiện ra trước mắt.
Bàn về cứu cánh, chân vọng vốn đồng một thể; chúng sanh và chư Phật không hai; sanh tử niết bàn, Bồ Ðề phiền não, đều là bổn tâm bổn tánh, mà không nên phân biệt thích thú hay nhàm chán thủ xả. Tâm thanh tịnh này, gốc vốn là Phật, chẳng cần dùng một pháp. Lý này thật nhiều lời. Tham khán!

0 Kommentare:

Chia Sẻ

Twitter Delicious Facebook Digg Stumbleupon Favorites