12 tháng 5 2012

Lịch Sử Đức Phật Thích Ca - Phần I


Trong kinh Tương Ưng V, đức Phật đã dạy: “Ví như, này các Tỳ kheo, một người quăng một khúc gỗ có một lỗ hổng vào biển lớn. Tại đấy có con rùa mù, sau mỗi trăm năm nổi lên một lần. Các người nghĩ thế nào, này các Tỳ kheo. Con rùa ấy, sau mỗi trăm năm, nổi lên một lần, có thể chui cổ vào khúc cây có một lỗ hổng hay không?”.


Lịch Sử Đức Phật Thích Ca 

Hòa thượng Thích Minh Châu soạn

Giáo Hội Phật giáo Việt Nam

Trường Cao Cấp Phật Học Việt Nam Thành phố Hồ Chí Minh. bttdtkvn

Ấn Hành. PL. PL. 2536 – DL. 1992

Mục Lục

Lời Nói Đầu
1. Thái tử Tất Đạt Đa Ra Đời
2. Đạo sĩ A Tư Đà Và Thái tử
3. Cuộc Sống Của Thái Tử Trong Thời Niên Thiếu
4. Quyết Tâm Xuất Gia Tầm Đạo
5. Sự Từ Bỏ Vĩ Đại
6. Đến Học Hai Đạo Sĩ Alara Kalama Và Uddaka Ramaputta
7. Tu Khổ Hạnh Sáu Năm
8. Chứng Ngộ Chân lý Tối Hậu
9. Đức Phật Do Dự Trước Khi Chuyển Bánh Xe Pháp
10. Đức Phật Giảng Pháp Đầu Tiên Tại Vườn Nai, Gần Thành Ba La Nại (Benares)
11. Nội Dung Kinh Chuyển Bánh Xe Pháp
12. Đức Phật Giác Ngộ Cho Yasa Và Những Người Bạn Của Yasa
13. Đoàn Tăng Sĩ Thuyết Pháp Đầu Tiên
14. Giác ngộ Cho Ba Mươi Thanh Niên
15. Ba Anh Em Ông Kassapa (Ca Diếp) Được Giác ngộ
16. Sariputta (Xá Lợi Phất) Và Moggalana (Mục Kiền Liên) Trở Thành Hai Đệ Tử Hàng Đầu Của Đức Phật
17. Đức Phật Về Thăm Gia Đình
18. Đức Phật Và Phụ Vương Suddhodana
19. Đức Phật Và Công chúa Yasodhara (Da Du Đà La)
20. Đức Phật Và Rahula (La Hầu La)
21. Đức Phật Và Bà Dì Mẫu Pajapati Gotami (Ma Ha Ba Xà Ba Đề)
22. Đức Phật Và Tôn giả Ananda
23. Đức Phật Và Devadatta (Đề Bà Đạt Đa)
24. Đức Phật Và Trưởng Giả Cấp Cô Độc (Anàthapindika)
25. Sự Nghiệp Giáo Hóa Và Thuyết Pháp Của Đức Phật – Tục Lệ An cư Kiết Hạ
26. Đức Phật Và Vua Pasenadi Xứ Kosala
27. Đức Phật Và Nữ Thí Chủ Visakha
28. Đức Phật Và Vua Bimbisara
29. Đức Phật Và Tướng Cướp Angulimala
30. Đức Phật Và Kỹ Nữ Ambapali
31. Đức Phật Tuyên Bố Sẽ Nhập Niết Bàn
32. Buổi Ăn Cuối Cùng Của Đức Phật
33. Cách Tốt Đẹp Nhất Để Tôn Trọng, Đảnh Lễ, Tán Thán, Quý Mến Như Lai
34. Bốn Địa Điểm Chiêm Bái
35. Đức Phật Hóa Độ Cho Người Cuối Cùng: Du Sĩ Subhadda
36. Những Lời Dạy Cuối Cùng Của Đức Phật
37. Lễ Trà Tỳ Và Sự Phân Chia Xá Lợi Của Phật (20)
Kết luận

Lời Nói Đầu

Lịch sử Đức Phật Thích Ca là lịch sử một con người, nhờ công phu tu tập bản thân, đã trở thành một con người hoàn thiện, một bậc Thánh giữa thế gian; “Con người vĩ đại nhất sinh ra ở đời này” nếu dùng lại lời của nhà thi hào Ấn Độ Tagore.
Bằng cuộc đời của Ngài, và bằng những lời dạy của Ngài được kế tập lại trong ba tạng kinh điển, đức Phật đã khai thị cho loài Người biết rằng, bất cứ một người nào, với sự nỗ lực của bản thân, đều có thể vươn lên tới đỉnh cao nhất của Giác ngộ và Giải thoát, như chính đức Phật vậy.
Có thể nói, không có một Tôn giáo nào, một hệ tư tưởng nào đề cao con người và đặt niềm tin vào con người như là đạo Phật. Tính nhân bản tuyệt vời của đạo Phật chính là ở chỗ đó.
Tránh mọi điều ác, làm mọi điều lành, gội sạch nội tâm để trở thành bậc thánh, một con người hoàn thiện, về đức hạnh và Trí tuệ, mỗi người chúng ta đều có khả năng và bổn phận thực hiện lời dạy đó, bức thông điệp đó mà đức Phật đã trao cho loài Người chúng ta, cho mỗi người chúng ta. Đó là ý nghĩa chân chính của nhân sinh, giá trị chân thực của cuộc sống. Không thể có ý nghĩa nhân sinh nào cao quý hơn, khích lệ hơn đối với cuộc sống của chúng ta hiện nay.
Chúng tôi từ lâu vẫn cho rằng đời sống của đức Phật Thích Ca, trong nét đại cương cũng như chi tiết, đều thể hiện và truyền đạt một cách vô cùng sinh động lời dạy đó của đức Phật. Tin tưởng ở đức Phật, đảnh lễ Ngài và niệm danh hiệu Ngài, chủ yếu là để học tập Ngài về cả hai mặt đức hạnh và Trí tuệ, dù chỉ là trong muôn một. Người nào tuy ở xa Phật, nhưng sống có giới hạnh, theo lời Phật dạy, thì cũng như sống gần Phật. Người nào tuy sống bên cạnh Phật, nhưng sống không có giới hạnh, thì cũng không khác gì ở cách xa Phật muôn trùng.
Những người Phật tử Việt Nam chúng ta, tuy sống cách thời đức Phật 2.500 năm, nhưng hãy giữ vững niềm tin rằng chúng ta vẫn sống bên cạnh đức Phật nếu chúng ta sống có giới hạnh, theo đúng lời dạy trong con đường đạo tám nhánh (Bát chánh đạo).
Sống trong vũ trụ này, được làm người là chuyện khó. Đức Phật nói rằng được làm người khó như một con rùa chột mắt, cứ mỗi trăm năm mới ngóc đầu lên khỏi mặt biển một lần, và tìm cách chui đầu vào lỗ nhỏ của một khúc gỗ trôi lềnh bềnh trên mặt nước, bị gió Đông, gió Tây, gió Nam, gió Bắc thổi trôi dạt hết phương này đến phương khác. Được làm người cũng khó như con rùa chột mắt đó muốn chui qua được lỗ nhỏ của khúc gỗ như thế. Trong kinh Tương Ưng V, đức Phật đã dạy: “Ví như, này các Tỳ kheo, một người quăng một khúc gỗ có một lỗ hổng vào biển lớn. Tại đấy có con rùa mù, sau mỗi trăm năm nổi lên một lần. Các người nghĩ thế nào, này các Tỳ kheo. Con rùa ấy, sau mỗi trăm năm, nổi lên một lần, có thể chui cổ vào khúc cây có một lỗ hổng hay không?”.
- “Năm khi mười họa may ra có thể được, bạch Thế Tôn, sau một thời gian dài”.
- “Ta tuyên bố rằng còn mau hơn, này các Tỳ kheo, là con rùa mù ấy, sau mỗi trăm năm nổi lên một lần, có thể chui cổ vào khúc gỗ có lỗ hổng ấy. Còn hơn kẻ ngu, khi một lần đã rơi vào đọa xứ, để được làm người trở lại. Vì cớ sao? Vì rằng ở đấy không có pháp hành, chánh hành, thiện nghiệp, phước nghiệp. Ở đấy, này các Tỳ kheo, chỉ có ăn thịt lẫn nhau, và chỉ có kẻ yếu bị ăn thịt...” (Tương Ưng V, 485).
“Thật khó được vậy, này các Tỳ kheo. Là được làm người. Thật khó được vậy. này các Tỳ kheo, là được Như Lai xuất hiện ở đời, bậc A la hán, Chánh đẳng giác, thật khó được vậy, này các Tỳ kheo, là Pháp và Luật này do Thế Tôn thuyết giảng, chiếu sáng trên đời...” (Tương Ưng V, 459 - 460).
Đức Phật xuất hiện ở đời cũng là chuyện khó như thế. Pháp và Luật được đức Phật truyền bá ở đời cũng là chuyện khó như thế. Chúng ta có ba cái may mắn hiếm có là được sống làm người, được biết đức Phật Thích Ca và pháp, luật do đức Phật dạy, ấy thế mà chúng ta không biết tranh thủ tối đa ba cái may mắn đó hay sao? Chúng ta lại có thể sống không giới hạnh, trái với lời Phật dạy, để rồi bị nghiệp ác lôi cuốn vào những cõi sống khác thấp hơn, khổ hơn cõi người, và cuối cùng phải phấn đấu trở lại làm người như con rùa chột mắt trong câu chuyện ví dụ của đức Phật hay sao?
Rất mong quý vị Phật tử suy ngẫm về bài học của lịch sử đức Phật, về ảnh dụ con rùa chột mắt chơi vơi trên đại dương, về ý nghĩa của nhân sinh, về giá trị chân thật của cuộc sống, về cuộc sống hiện thực hiện nay cả mỗi chúng ta, làm sao để cho cuộc sống đó thực sự an lạc, hướng thượng, lợi cho mình, lợi cho người, lợi cho đời, lợi cho Đạo.
Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Tỳ kheo Thích Minh Châu.

1. Thái tử Tất Đạt Đa Ra Đời

Vào ngày rằm tháng 4, năm 623 trước công nguyên tại vườn Lumbini (Lâm Tỳ Ni) gần thành Kapilavastu (Ca Tỳ La Vệ), một nơi hiện nay là vùng biên giới giữa Nepal và Ấn Độ, Đức Phật Thích Ca đã giáng sinh, làm Hoàng tử con vua Suddhodana (Tịnh Phạn) và Hoàng hậu Maha Maya (Ma Da). Vua Suddhodana trị vì một vương quốc nhỏ của bộ tộc Sakya (Thích Ca).
Vì Hoàng hậu Maha Maya qua đời bảy ngày sau khi Thái tử sinh ra, cho nên Thái tử được bà dì Maha Pajapati Gotami (Maha Ba xà ba đề), trực tiếp nuôi nấng, dạy dỗ, còn người con trai của Bà dì là Nanda thì được giao cho các bảo mẫu nuôi dưỡng.
Tên riêng của vị Phật tương lai là Si Đác Ta (Tất Đạt Đa), tên giòng họ Ngài là Gotama (Cồ Đàm). Vì giòng họ này thuộc bộ lạc Sakya (Thích Ca), cho nên sau này có danh hiệu Sakya Muni (Thích Ca Mâu Ni). Muni là bậc Thánh, Sakya Muni là bậc Thánh thuộc bộ lạc Thích Ca.

2. Đạo sĩ A Tư Đà Và Thái tử

Ngày Thái tử Si Đác Ta đản sanh là ngày hội vui lớn của toàn vương quốc. Dân chúng xa gần kéo về kinh đô Kapilavastu ăn mừng. Một vị Đạo sư già tên là Asita (A Tư Đà) cũng từ nơi ông tu hành trên núi Himalaya (Hy mã lạp sơn) đến cung vua để chào mừng và xem tướng Thái tử. Gặp Thái tử, Đạo sĩ Asita bỗng nhiên chắp tay vái chào với thái độ hết sức cung kính. Đạo sĩ tuy cười mà vẻ mặt thoáng buồn. Được hỏi vì cớ sao, Đạo sĩ Asita trả lời là ông mừng vì Thái tử tương lai sẽ thành Phật, bậc Giác ngộ Vô thượng, nhưng ông buồn vì ông tuổi đã quá cao, ắt phải qua đời mà không được vị Phật tương lai trực tiếp giáo huấn, Giác ngộ.
Trong kinh Sutta-Nipata (Kinh Tập, 101), có kể truyện Đạo sĩ Asita đang tu trên núi Tuyết sơn, được chư Thiên mách bảo, bèn xuống núi, đến thành Kapilavastu xem tướng cho Thái tử.
"Thấy Thái tử chói sáng
Rực rỡ như vàng chói,
Trong lò đúc nấu vàng,
Được thợ khéo luyện thành
Bừng sáng và rực rỡ,
Với dung sắc tuyệt mỹ...
Sau khi thấy Thái tử,
Chói sáng như lửa ngọn,
Thanh tịnh như sao Ngưu,
Vận hành giữa hư không,
Chói sáng như mặt trời,
Giữa trời thu mây tạnh.
Ẩn sĩ tâm hân hoan
Được hỷ lạc rộng lớn.”
Và Đạo sĩ Asita nói là Thái tử tương lai sẽ tu chứng Phật quả, vì lòng từ thương xót chúng sanh mà truyền bá Chánh pháp trên thế gian này.
"Thái tử này sẽ chứng,
Tối thượng quả Bồ đề
Sẽ chuyển bánh xe Pháp,
Thấy thanh tịnh tối thẳng
Vì lòng từ thương xót,
Vì hạnh phúc nhiều người,
Và đời sống phạm hạnh,
Được truyền bá rộng rãi.”
Nhưng vì nghĩ mình đã già, không còn sống được bao lâu nữa, để có thể trực tiếp nghe Đức Phật thuyết pháp, cho nên Đạo sĩ buồn và nói:
"Thọ mạng ta ở đời,
Còn lại không bao nhiêu,
Đến giữa đời sống Ngài
Ta sẽ bị mệnh chung.
Ta sẽ không nghe Pháp,
Bậc tinh cần vô tỷ,
Do vậy ta sầu não,
Bất hạnh và khổ đau..." (Kinh Tập, 103)

3. Cuộc Sống Của Thái Tử Trong Thời Niên Thiếu

Thái tử Si Đác Ta được nuôi nấng, dạy dỗ, giáo dục một cách toàn diện về hai mặt: văn chương và võ nghệ.
Khi Thái tử lên bảy tuổi, những Thầy giáo giỏi nhất trong xứ được mời đến Hoàng cung dạy cho Thái tử các môn học thế gian như Thanh minh (ngôn ngữ học và văn học), Công xảo minh (Công kỹ nghệ học), Y phương minh (môn học chữa bịnh), Nhân minh (Luận lý học), và Nội minh (Đạo học). Về Đạo học, Thái tử được dạy về 4 sách Thánh Veda, là các sách Thánh của Bà la môn giáo. Sách kể rằng: chỉ trong khoảng thời gian từ 7 đến 12 tuổi, Thái tử đã học thông thạo 5 môn học trên và 4 sách Thánh Veda. Đến năm 13 tuổi, Thái tử học võ thuật, theo truyền thống giòng dõi đẳng cấp võ tướng (Ksatryas, Sát đế lỵ). Nhờ có sức khỏe phi thường, Thái tử học môn võ gì cũng giỏi; về môn bắn cung, sách kể rằng, trong một cuộc hội thi, Thái tử đã bắn một mũi tên xuyên 7 lớp trống đồng, trong khi người giỏi nhất tại cuộc thi chỉ bắn xuyên được ba lớp trống đồng.
Vào tuổi 16, Thái tử cưới Công chúa Yasodhara (Da Du Đà La), đồng lứa tuổi với Thái tử. Và trong gần 13 năm, sau ngày cưới, Thái tử sống một cuộc đời hạnh phúc trong nhung lụa, vô tư, không biết gì tới mọi nỗi khổ và bất hạnh ở đời. Về quãng đời ấy của Ngài, Đức Phật kể lại như sau với các Tỳ kheo (1), đệ tử của Ngài:
"Này các Tỳ kheo, Ta được nuôi dưỡng tế nhị, quá mức tế nhị. Trong cung của Phụ vương Ta, các hồ nước được xây lên, trong một hồ có hoa sen đỏ, trong một hồ có hoa sen trắng, tất cả đều phục vụ cho Ta. Không một hương chiên đàn nào Ta dùng, này các Tỳ kheo, là không từ Kasi (2) đến. Bằng vải Kasi là khăn của Ta, này các Tỳ kheo, bằng vải Kasi là áo cánh, bằng vải Kasi là áo lót, bằng vải Kasi là áo khoác ngoài. Đêm và ngày, một lọng trắng được che trên đầu Ta để tránh xúc chạm lạnh, nóng, bụi, cỏ hay sương. Này các Tỳ kheo, ba lâu đài được xây dựng cho Ta, một cái cho mùa đông, một cái cho mùa hạ, một cái cho mùa mưa. Và Ta, này các Tỳ kheo, tại lâu đài mùa mưa, Ta được các vũ nhạc công đờn, múa hát xung quanh Ta..." (Tăng Chi 1, 161 - 162).

4. Quyết Tâm Xuất Gia Tầm Đạo

Thế nhưng, với thời gian, do năng khiếu suy tư sâu sắc và lòng thương người bẩm sanh, Thái tử không thể nào cam tâm một mình sống mãi trong nhung lụa, giữa một xã hội bất công, một thế giới đau khổ. Thái tử sớm Giác ngộ về tính tạm thời, tầm thường của hạnh phúc vật chất thế gian và có ý chí xuất gia cầu đạo Giải thoát, tìm ra con đường cứu vớt chúng sanh ra khỏi già, đau, chết và mọi nỗi bất hạnh khác của đời người.
Một ngày nọ, Thái tử đi ra ngoài thành dạo chơi và lần đầu tiên trong đời được tiếp xúc với những sự thật đen tối và đáng sợ: Thái tử lần lượt gặp một người già yếu, một người bệnh tật, một xác chết và cuối cùng là một vị Tu sĩ với dung sắc Giải thoát, khoan thai đi trên đường. Thái tử nghiệm thấy mình dù là Thái tử con vua, cũng không thể thoát khỏi cảnh già, đau, và chết; những hình ảnh siêu thoát của vị Tu sĩ đã giúp Thái tử sớm thấy được con đường dẫn đến Giác ngộ, vĩnh viễn khắc phục mọi nỗi khổ đau và bất hạnh của đời người, con đường dẫn tới cõi Niết bàn Bất tử.
Từ đó, Thái tử nuôi dưỡng quyết tâm từ bỏ gia đình, xuất gia cầu đạo. Nhưng, một tin đến, khiến Thái tử không vui: Công chúa Yasodhara mới hạ sinh một con trai. Thái tử nói: "Một trở ngại (ràhu) đã được sanh, một ràng buộc đã xảy ra.” Nhân đó, ông nội, vua cha Suddhodana đặt tên cháu là Ràhula (La Hầu La).
(còn tiếp)

0 Kommentare:

Chia Sẻ

Twitter Delicious Facebook Digg Stumbleupon Favorites